Đại biểu tham dự Tổng Công Hội 28

Đại biểu tham dự Tổng Công Hội 28

Đại biểu tham dự Tổng Công Hội 28


CHƯƠNG II - PHẦN 3: NĂM 1848 – TIẾP THEO

CUỘC ĐỜI MẸ SÁNG LẬP DÒNG ĐỨC BÀ TRUYỀN GIÁO


                                            

    Trong xe, Euphrasie quờ tay vội tìm chiếc khăn. Trước khi tìm được, nước mắt cô đã chảy giàn giụa. Giấu mặt trong chiếc mũ, cô khóc tức tưởi.

    Các hành khách trên xe dường như không biết chuyện gì. Ngoài trời đã bắt đầu tối và họ đã ổn định chỗ của mình cho đêm nay. Khi Euphrasie cất khăn tay ướt sủng và bẽn lẽn nhìn xung quanh, mọi người đã trùm chăn và áo choàng lớn, ngồi dựa lưng vào thành xe và mắt nhắm nghiền.


    Euphrasie trùm áo choàng quanh người và tựa lưng vào góc xe, cô rất mệt nhưng không ngủ được. Nhìn qua cửa sổ, cô thấy bóng cây và nhà cửa trong đêm tối, và thỉnh thoảng có tia sáng lướt qua khi xe ngựa chạy qua các làng và ngôi nhà. Khi một hành khách càu nhàu vì trời lạnh và kéo tấm rèm cửa dày ngay cửa sổ, bên trong xe trở nên một hộp tối, xốc, lắc lư khi bánh xe cán những hòn đá bên dưới.


    Euphrasie ổn định lại chỗ ngồi. Mắt cô sưng vù và cô cảm thấy nhức đầu, trái tim cô cũng nhói đau không chịu được, nhưng không còn giọt nước mắt nào nữa. Cô nhớ cảnh gia đình đang quây quần bên lò sưởi ở nhà; cô có thể nhìn thấy khuôn mặt và nghe tiếng nói của mọi người. Giờ đây họ đang chuẩn bị đi ngủ rồi. Cô có thể hình dung họ đang tìm chỗ quỳ cầu nguyện, bé Marie rúc vào lòng bố và em Louise dùng tràng chuỗi chung với Mẹ.


    “Hay là đêm nay có gì khác không?” cô nghĩ. “Có ai quỳ chỗ của mình không? Mọi người có đổi chỗ hết không?”

    Cô quyết định đọc kinh tối với cả nhà, nhưng lời kinh của cô bắt đầu lẫn lộn. Cô bắt đầu lại. Cô thấy mình đang sống lại những tuần cuối ở nhà. Cố gắng tập trung, cô bắt đầu lại lần nữa trong bóng tối khi xe ngựa chạy ầm ầm. Cô nhìn thấy bố mẹ cô và các em rõ ràng, nhưng dường như có điều gì đó không ổn. Có điều gì đó cô rất muốn nói với cả nhà nhưng có một rào cản lớn nổi lên ngăn cách họ và mọi người không chú ý cô nữa dù cô cố gắng ra hiệu.

    Cô bị đánh thức đột ngột. Thoạt tiên cô nghĩ là mình đang mơ, và cô nhớ lại.

    “Mình đã ngủ thiếp đi”, cô nghĩ. “Chuyện gì đang xảy ra vậy? Cô nhận thấy xe ngựa đã dừng lại. Những hành khách khác bắt đầu bước qua cô và đi ra phía cửa. Cô ngồi ở phía trước nhìn ra ngoài. Bên ngoài trời rất tối nhưng có ánh đèn và tiếng người gần đây.

    Người đánh xe đứng ở cửa.

    “Mọi người đi ra ngoài! Ông gọi: “ra đi cô ơi, chúng ta nghỉ ở đây, tại Lisieux một chốc. Nếu quý vị muốn dùng điểm tâm, thì mau vào bên trong”.

    “Điểm tâm! Sáng rồi sao?” cô nghĩ. Cô tìm ví tiền của mình và đi theo hành khách vào quán. Xe ngựa dừng ở mảnh sân đá và vài người đàn ông đang bận rộn chuyển những cái thùng xuống trong cảnh tranh sáng tranh tối. Mấy con ngựa thở phì phò và giậm chân, người ta có thể nhìn thấy khói từ hơi thở của chúng nhờ ánh sáng từ cửa sổ quán ăn. Trước khi vào bên trong quán, Euphrasie nhìn thấy người đánh xe cầm một miếng bánh trong tay và một ly nước nóng ở tay bên kia. Ông đang quan sát những người giữ ngựa khi họ dắt những chú ngựa mệt mỏi đi và thắng cỗ ngựa mới vào xe.


    Cô vừa mới hớp một ngụp nước nóng thì một người đang ông mạnh khỏe đeo tạp dề lắc cái chuông treo trước cửa tiệm. Bước vào bên trong, ông la to át cả tiếng ồn trong quán, “Xe đi Everux sẽ rời trong năm phút nữa! Xe đi Everux sẽ rời…Mọi người lên xe!”

    Euphrasie vội trở về xe. Khi đến gần, cô nhìn lên nóc xe. Thùng đồ của cô biến mất, một kiện hành lý khác thay vào chỗ đó. Cô bắt đầu tìm kiếm trong tuyệt vọng.

    “Không, mình không phải lo lắng,” cô nghĩ. Thùng đồ có tên rõ ràng rồi. Mình phải tin người đánh xe, ông ta trông coi nó”.

    Cô ổn định chỗ ngồi và xe ngựa lăn bánh. Cô lại nghĩ về niềm tin, tin người đánh xe ngựa sẽ lo cho hành lý của cô, tin vào Chúa Đấng đang gọi cô.

    “Hôm nay phải là ngày hạnh phúc nhất của đời mình,” cô nghĩ.

    Mình không cảm thấy vui lắm.

    “Có thể đây là điều mà Cha Lefournier nói “bước đi trong đức tin”, cô nghĩ. “Khi Nathalie qua đời, cả nhà nói với Chúa là chúng con đón nhận thánh ý của Ngài, nhưng mọi người vẫn còn buồn rất lâu. Mình sẽ sớm gia nhập dòng các nữ tu Can-vê, và rồi mình sẽ có niềm vui đích thật. Lúc đó sẽ là ngày hạnh phúc nhất của đời mình, và vì lý do đó Chúa đã tạo nên mình”.

    Cả ngày hôm ấy xe ngựa đi qua những con đường quê vắng vẻ, qua các làng mạc và các thị xã đông đúc. Đến chiều tối, họ đến thị xã lớn của Evreux.

    Euphrasie nhìn mọi sự cách chăm chú, xúc động vì sợ hãi hơn là tò mò. Thỉnh thoảng cô lôi mảnh giấy ghi những chỉ dẫn của Cha Lefournier. Cô đọc đi đọc lại nhiều lần cho đến khi thuộc lòng: tối nay cô sẽ nghỉ tại nhà trọ; đến sáng cô sẽ đến ga xe lửa và bắt tàu đi Paris.


    “Mọi sự sẽ mới lạ đối với con”, Cha Lefournier giải thích, “nhưng không có gì khó cả. Vùng đó rất khác so với Normandy. Công nghiệp phát triển cao, dân số đông và những máy móc hiện đại được chế tạo nhằm làm cho công việc được nhanh hơn. Phương tiện di chuyển cũng hiện đại và nhanh, và có nhiều người đi tàu lửa.

    “Đừng sợ. Buổi sáng, con đón tắc-xi đến ga xe lửa. Đến đó con chỉ làm theo những gì các hành khách khác làm, công ty tàu lửa có phân công nhân viên trợ giúp hành khách.

    Sáng hôm sau, ra khỏi tắc-xi, Euphrasie theo dòng người đang ùa vào lối đi có mái vòm bằng sắt. Cô nhìn thấy hàng chữ phía trên hướng dẫn lối vào ga xe lửa.

    Vào bên trong cô nhìn thấy mọi sự rất khác lạ mà cô khó có thể hình dung, nhưng cô nhận thấy rằng Cha Lefournier đã mô tả rất kỹ. Người phu khuân vác đội mũ và đeo tạp dề đen xách thùng đồ của cô và đưa cô vào bên trong nhà ga, một sân ga dài, đã có nhiều người đang tụ tập. Nhà ga rất ồn ào với nhiều tiếng động, tiếng bước chân và tiếng cười nói, tiếng ầm ầm của xe nhỏ kéo bằng tay và xe đẩy trẻ con.


Euphrasie  chợt thấy cả đám đông dõi ánh mắt hy vọng về phía xa xa. Cô cũng quay nhìn và thấy một đường rãnh dài, rộng xa hơn ranh giới của sân ga, dọc theo đáy phẳng của đường rãnh có hai đường ray bằng sắt. Có tiếng rít lớn và tiếng như thể tiếng rền lanh lảnh làm rung đất. Một cái máy khổng lồ, một con quái vật với nước sơn màu đồng và xanh xuất hiện cùng với đám hơi nước cuộn theo đường ray.

    Euphrasie chưa từng thấy điều này bao giờ nhưng cô nhận ra ngay lập tức. Có ai đó, hình như là chú Francis trong những bài tập đọc, hay là bố đã có lần giải thích những nguyên tắc của động cơ hơi nước cho cô. Với tiếng rít lớn và hơi nước vọt ra từ ống khói cao, đoàn tàu tiến vào trạm. Nó cao hơn nhiều so với đám đông đang chờ. Các nhân viên đường sắt bắt đầu mở cửa và chuyển hành lý; họ phụ giúp hành khách, đàn ông, phụ nữ và cả những em bé ăn mặc đẹp, lên và xuống các bậc thang vào sân ga.


    Những người cạnh Euphrasie tràn lên. Cô xách thùng đồ đi theo họ đến bậc thang cao và hẹp để vào trong tàu. Cô nhớ lời dặn của Cha Lefournier: “Đừng ngồi ở những toa tốt nhất hoặc những toa tệ nhất; những toa có ghế ngồi bọc bằng nhung thì rất đắt; những toa có ghế gỗ thô cứng dành cho nam lao động cộc cằn, không thích hợp cho những phụ nữ trẻ đứng đắn đi một mình”.

    Những người ngồi bên cạnh cô trông đứng đắn và các ghế ngồi thì đơn sơ nhưng sạch sẽ, nên Euphrasie ổn định ở đó. Cô thấy hành trình đi đến Paris vô cùng thú vị; có lẽ sẽ mất vài giờ đồng hồ mới tới nơi, nhưng cô không lấy đó làm phiền vì có quá nhiều thứ để nhìn ngắm.

    “Nếu họ được ở đây”, cô nghĩ, “Bố và em Louise và tất cả mọi người, họ sẽ vô cùng kinh ngạc!”

    Cô để ý những điều thú vị để kể cho cả nhà nghe trong lá thư tới của cô. Tàu chạy rất nhanh, cô nghĩ là còn nhanh hơn cả ngựa phi nước đại, và điều đó thật vô cùng thoải mái. Con tàu chuyển động êm ả và đều đặn nên dù tàu đang chạy nhưng các nhân viên có thể đi tới đi lui để thu phí và trao một thẻ nhỏ, được dùng như hóa đơn, cho hành khách. Euphrasie hay nghĩ về gia đình. Cô ước gì gia đình có thể đi cùng chuyến phiêu lưu này với cô! Bố sẽ thích thú dường nào khi thấy một cỗ máy lớn bằng sắt với màu xanh và màu đồng sáng; và em Louise sẽ vui sướng biết bao, và mọi người sẽ thừa nhận về tốc độ và sự thoải mái của cuộc hành trình!


    Euphrasie sờ soạng trong giỏ tìm mảnh giấy để kiểm tra lại nơi cô sẽ nghỉ đêm với một người bạn tín cẩn của Cha Lefournier.

    “Bưu điện” cô đọc mảnh giấy. “Mình phải tìm cái bưu điện mà Cha Lefournier nói đến, và mình phải gửi thư cho bố mẹ càng sớm càng tốt”.

    Euphrasie biết rằng Paris được xem là thành phố đẹp nhất trên thế giới, nhưng tối hôm ấy cô không có giờ để tham quan. Cô lấy bút và lọ mực được gói cẩn thận ra và viết thư cho gia đình, cố gắng mô tả cách rõ ràng về những điều kỳ diệu nơi thế giới mới của cô.

    Sáng hôm sau, khi đã gửi thư, cô đáp tàu đi Champagne về hướng đông nam của nước Pháp. Đó là một cuộc hành trình dài. Đồng quê ở đây rất khác so với đất đai màu mỡ vùng Normandy và những thành phố đông đúc ở phía bắc. Con tàu di chuyển hàng giờ, một ngày một đêm, và một ngày nữa, nó chỉ dừng trong một thời gian ngắn để thêm nước và than. Hành khách lên và xuống. Một vài hành khách để ý khuôn mặt đẹp và đôi mắt sáng của một cô gái duyên dáng đang nhìn ra cửa sổ hàng giờ. Thỉnh thoảng, một người đàn ông ăn mặc đẹp dừng ở lối đi, cúi chào, muốn được để ý và cũng bị quyến rũ, nhưng cô hoàn toàn không để ý đến sự hiện diện của bất cứ ai. Đôi khi, cô liếc nhìn một vài thay đổi hoặc sự quấy rầy, rồi cô lại quay đi. Euphrasie ở một nơi rất xa.


    Ngoài kia, có nhiều vùng đất bỏ hoang và những khu rừng thông với những ngôi làng tồi tàn rải rác giữa các ngọn đồi và các dãy đá; vùng quê trở nên hoang dã, thô sơ hơn và có nhiều núi.

    Euphrasie xuống tàu ở một thị xã nhỏ có tên Chaumont. Điểm đến giờ đây của cô là Cuves, một làng nhỏ cách đây vài dặm. Không có phương tiện di chuyển thường xuyên đến một nơi tầm thường như vậy, nhưng Euphrasie cũng kiếm được một chỗ trên chuyến xe ngựa thôn dã, dùng để giao hàng đến vùng những vùng nông thôn. Cô bẽn lẽn ngồi bên cạnh người tài xế lầm lì ít nói, phía sau cô là những cái sọt và thùng nhỏ. Không có việc gì làm ngoài việc ngắm nhìn những cánh đồng và những bờ giậu chầm chậm lướt qua.


    Chặng cuối của cuộc hành trình dường như dài vô tận. Sau hàng giờ ì ạch qua những hàng dậu tơi tả của một con đường nhỏ hẹp và trống trải, cuối cùng, chiếc xe ngựa trèo lên một ngọn đồi và đến một thung lũng, Euphrasie thấy một ngôi nhà thờ đá nhỏ đứng giữa hai cây đoạn lớn (cây cho bóng mát thuộc chi Tilia, lá mau rụng và có hình dạng như quả tim, chùm hoa rũ màu vàng nhạt, có hương thơm).

    “Cuves!” người tài xế nói cách cộc cằn, chỉ tay một cách mơ hồ về phía đó. “Tu viện!” ông nói thêm.

    Euphrasie nhận ra rằng ngôi làng cô thấy trước khi đến, ẩn mình giữa đám cây cối trong cái thung lũng bao quanh bởi đồi dốc.

    Xe ngựa chạy vào sân sau ngôi nhà nguyện cổ. Phía bên kia bức tường, có nhiều dãy nhà khác nữa.

    “Đó là tu viện! người tài xế nói. “Đó là nơi các nữ tu sinh sống, các nữ tu dòng Can-vê”. Euphrasie lục tìm cái bóp khi lấy thùng đồ.

    Cô sớm nhận ra, Cha Chantome, vị sáng lập của dòng, đi vắng và đang làm việc cho một dự án khác của ngài, các linh mục dòng Ngôi Lời. Ngài ủy quyền chăm lo tu viện cho Mẹ đáng kính Marie Barbe Guyot, nữ tu đầu tiên gia nhập dòng mới các nữ tu thừa sai. Dòng vừa thành lập được tám năm và đang phát triển. Tu viện cũ giờ đây trở nên quá nhỏ. Trường nội trú vừa được chuyển thành một tòa nhà mới và rộng, và các nữ tu còn cần thêm các phòng ở cho tu viện.

    Mẹ đáng kính Marie Barbe vui mừng hay tin một chuẩn sinh mới vừa đến, và Mẹ vội vàng đi xuống đón chào Euphrasie.

    Euphrasie thích hai nữ tu đầu tiên cô gặp ngay lập tức. Ngay cả khi họ đang chào cô, cô nghĩ,

    “Đây là những người chị của mình, nhưng điều gì sẽ xảy ra bây giờ? Làm cách nào để gia nhập dòng? Mình phải làm gì? Cô háo hức, thậm chí nóng vội, hơn cả một chút sợ hãi, giờ đây cô đã đến gần mục đích của mình rồi. Cô luôn thích được chắn chắn và chính xác trong những việc cô làm.

    Các nữ tu mang đến cho cô một ly nước nóng và một ít thức ăn, và vào trong…“để sắp xếp” họ nói.

Euphrasie ăn vội vã và lo lắng, dù có nước nhưng cô thấy thật khó để nuốt miếng bánh.

    “Cuối cùng thì thời điểm cũng đã đến!” cô nghĩ. “Vài phút nữa, họ sẽ choàng chiếc voan lên đầu mình và mình sẽ trở thành một thành viên, nhưng mình phải làm gì? Làm gì để được tốt như họ? Có nên tĩnh tâm hoặc làm điều gì đó trước không, hoặc là tĩnh tâm nhiều lần? Làm thế nào được? Ôi lạy Chúa, xin giúp con, hãy để điều đó xảy ra nhanh chóng, nhưng con không biết phải làm gì!”

    Mẹ Marie Barbe trở ra cùng với một nữ tu lớn tuổi, một người nhỏ bé, đúng hơn là một phụ nữ có lưng còng với khuôn mặt đầy sẹo do bệnh đậu mùa; Sr có vẻ hiền lành và chân thật. Euphrasie đứng lên, mĩm cười. Tim cô đập nhanh.

    “Điều đó sẽ xảy ra bây giờ, bây giờ!” cô nghĩ. “Các Srs sẽ cho mình biết phải nên làm gì”.

    “Và đây là Mẹ giáo tập của chúng tôi, Mẹ St John,” Mẹ Marie Barbe giới thiệu. Rồi Mẹ hỏi đến lần thứ ba,

    “Con bao nhiêu tuổi rồi cô bé?”

    “Mười chín, thưa Mẹ đáng kính,” Euphrasie trả lời, hơi thắc mắc.

    “Mười chín tuổi rồi, hay là con sẽ được mười chín vào sinh nhật sắp tới?”

    “Mười chín tuổi rồi, thưa Mẹ đáng kính, con sẽ tròn hai mươi vào ngày 4 tháng 1 năm tới”.

    “Con trông rất trẻ,” Sr lớn tuổi nói.

    Mẹ Marie-Barbe hơi có vẻ chần chừ.

    “Con yêu dấu,” Mẹ nói, “chúng ta rất vui mừng đón tiếp con, và cũng rất hài lòng về sự giới thiệu của Cha Lefournier, vị linh hướng của con, nhưng chúng ta à…nghĩ rằng có lẽ tốt hơn con nên chờ thêm một thời gian nữa…”

    Euphrasie nhìn Mẹ Marie-Barbe trân trân, không nói nên lời. Cô không tin những gì cô đang nghe.

    “Chúng ta không có ý nói là con nên trở về nhà,” Mẹ Marie-Barbe vội thêm, “nhưng chúng ta nghĩ rằng sẽ tốt hơn nếu con được học thêm. Vẻ bề ngoài của con còn rất trẻ. Có lẽ con cần sống một năm ở nhà nội trú trước khi lấy quyết định cuối cùng về ơn gọi của con.”

    “Ồ thưa Mẹ đáng kính, con đã cầu nguyện và suy nghĩ về ơn gọi của con nhiều năm rồi. Con biết Chúa muốn điều gì nơi con…”

    “Con yêu dấu, ai biết được điều Chúa muốn?” Mẹ Marie-Barbe dừng một lát. “Trường nội trú ở đây có chương trình giáo dục rất tốt. Cách phát âm của con sẽ tốt hơn nhiều.”

    Euphrasie đỏ mặt. Lần đầu tiên trong đời cô cảm nhận rõ hơn về sự dở dang trong việc học của mình. Cô xấu hổ vì giọng địa phương, kiểu nói của người nhà quê hay của một nông dân. Trước đây cô chưa từng cảm thấy hổ thẹn về điều này, và cũng không hề ý thức về nó. Cô hổ thẹn vì sự suy đoán của mình. Người nữ tu cao lớn, duyên dáng và lịch thiệp đang đứng trước mặt cô đây không thôi học năm lên mười ba tuổi như cô và có giọng phát âm của một người phụ nữ học thức và nhiều tài năng.

    Mẹ Marie-Barbe chăm chú nhìn Euphrasie với cái nhìn trìu mến và chân thật.

    “Chúa đáng lãnh nhận điều tốt nhất mà chúng ta có thể trao cho Người,” Mẹ thì thầm.

    “Lòng Euphrasie chùng xuống. Cô đến dâng Giêsu cõi lòng ấy, có phải Người đang từ chối cô, hay gạt bỏ cô sau những cuộc tìm kiếm không ngừng?

    Mẹ Marie-Barbe biết là Euphrasie đang thất vọng. Mẹ cố gắng nhẹ nhàng và cho cô thêm thời gian. Thật dễ khi nói “Đừng thất vọng, đến đây ngay như con mong ước.” Cô gái nhỏ này có nhiều điểm tốt nhưng Marie-Barbe không biết gì thêm về cô. Có phải cô chỉ chậm phát triển về thể lý thôi, hay cô là một thiếu niên ảo tưởng, một người đạo đức đa cảm?

    “Sau một năm học, con vẫn còn rất trẻ”, Mẹ St John nhận xét.

    Những ý nghĩ chạy hoảng loạn trong đầu Euphrasie: Có phải Chúa đang thử thách mình không? Người muốn mình làm điều gì? Mình phải làm gì?

    Và giờ đây những câu trả lời đến trong thinh lặng. Euphrasie nói lớn,

    “Làm sao con biết được đâu là ý Chúa đối với con lúc này?”

    Mẹ Marie-Barbe cười nhẹ.

    “Nếu vị hướng dẫn của con hỏi con điều đó, con sẽ nói gì?”

    “Con sẽ nói là, ‘Người nói với con qua Giáo hội và những người chịu trách nhiệm về con.”

    Lại một sự thinh lặng

    “Rồi ngài hỏi con điều gì nữa?” Marie-Barbe hỏi.

    Euphrasie không muốn trả lời nhưng cô nhớ lời Cha Lefournier thường nói “sống cho Chúa chứ không phải cho sự thỏa mãn của riêng con.”

    Cô thinh lặng một chút.

    “Tốt rồi, Mẹ đáng kính,” cô nói, “con sẽ sống ở nhà nội trú một năm.” Những lời này làm cô xúc động. Cổ họng cô nghẹn tắc lại như thể lúc cô đang ở Caen, chào tạm biệt gia đình Barbier bên đường.

    Chiều tối hôm ấy, những đồ đạc cô mang theo được đóng lại gọn gàng để ở tu viện. Euphrasie mang những đồ còn lại đến nhà nội trú.


    Sáng hôm sau, Euphrasie bắt đầu lại đời sống của một sinh viên. Nó rất khác so với những ngày đi học hạnh phúc trước đây. Cô rất nhỏ, nhỏ hơn so với những cô gái lớn tuổi, cô không còn là một đứa trẻ ở giữa những đứa trẻ khác. Những cô gái khác cảm nhận được điều đó và cảm thấy thẹn cho cô bạn mới này mặc dù cô luôn vui vẻ với họ. Cô không thể chơi và trò chuyện như một cô học sinh ở trường, thay vào đó cô lao vào việc học.

    Mẹ Marie-Barbe sớm nhận thấy là Euphrasie vượt xa những học trò khác về sự trưởng thành và phán đoán. Các bài làm của cô rất tốt, nhờ sự thông minh bẩm sinh và nhờ các giờ học phụ đạo vào buổi tối với chú Francis. Giọng phát âm của cô tiến bộ đáng kể; đôi tay cô đặc biệt khéo léo và cô thích học thủ công và những kỹ năng khác. Mẹ Marie Barbe và Mẹ Giáo tập bắt đầu xem xét lại quyết định của mình trước đây. Họ nói với nhau về việc Euphrasie chấp nhận đề nghị của họ mặc dầu cô vô cùng thất vọng.

    “Đó là một dấu chỉ cho thấy cô có đời sống thiêng liêng sâu,” Mẹ St John nói. “Thường chúng ta cần thời gian dài để học biết cách đón nhận ý Chúa, khi ý Người mâu thuẫn với những ước muốn tha thiết của mình”.

    Một ngày kia khi tan học, Mẹ Marie Barbe gọi Euphrasie ra.

    “Chiều nay, các tập sinh sẽ chuyển sang dãy nhà mới của tu viện,” Mẹ nói và mĩm cười. “Con còn muốn gia nhập với họ không?”

(Xin xem bài đăng tiếp theo CHƯƠNG III- PHẦN 1: Năm 1849)

                                            


 Tác giả bản tiếng Anh: Sr. Mary Philippa Reed - RNDM

Chuyển ngữ: Sr. Agata Nguyễn Thị Phượng Linh - RNDM